Trang chủ » Giới thiệu sách mới » #

Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học

Nghiên cứu Nhật Bản, từ lịch sử, xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế … là một nhu cầu có tầm quan trọng lớn và lâu dài đối với chúng ta, đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi đất nước đang dấn bước mạnh mẽ vào quá trình phát triển và hội nhập.

Từ lâu đã có một câu hỏi: Vì sao cùng là những nước nhỏ láng giềng gần và được coi là nằm trong vùng ảnh hưởng lâu dài của văn hóa Hán mà những chọn lựa lịch sử lớn, quá trình phát triển và số phận của ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam lại đã đi theo những con đường khác nhau, đưa đến thực trạng khác nhau như hiện nay? Những nguyên nhân địa lý và lịch sử nào đã đưa đến tình hình đó? Từ đó có thể đưa đến những suy ngẫm gì cho hôm nay và sắp đến?... Nhiều tác giả đã cố gắng đề cập đến vấn đề do câu hỏi lớn ấy đặt ra, đặc biệt là trong nghiên cứu ít nhiều có tính so sánh giữa Việt Nam và Nhật Bản. Cuốn sách của Tadao Umesao lần này cho ta thêm một góc nhìn mới về đề tài quan trọng này.

Mặc dầu được viết từ đã khá lâu (1964), đây là lần đầu tiên cuốn sách này được dịch sang tiếng Việt, đến với người đọc Việt Nam. Tác phẩm cung cấp cho chúng ta một cái nhìn, một cách nhìn độc đáo, bất ngờ, không chỉ về Nhật Bản mà cả về thế giới, đặt hiện tượng Nhật Bản (và từ đó có thể suy ra cả hiện tượng Việt Nam) trong bối cảnh tổng quan về thế giới được nhìn theo một cách hoàn toàn khác với truyền thống để phân tích và giải thích hiện tượng ấy.

Umesao đề nghị một cách vẽ bản đồ lịch sử thế giới theo kiểu mới, chính xác hơn về thực chất. Theo ông, các khái niệm vốn quen thuộc như phương Đông và phương Tây, châu Âu và châu Á thật ra hầu như chẳng có ý nghĩa thực sự nào. Chẳng hạn nước Nga là châu Âu hay châu Á (gần đây có một bài viết nổi tiếng của nhà văn hóa Nga rất lớn Likhachev kiên quyết khẳng định nước Nga là châu Âu), và cũng chẳng hạn giữa Afganistan với Việt Nam đều được coi là hai nước châu Á thì có chút gì giống nhau? v.v… Umesao hình dung bản đồ thế giới như một hình ô van dài, chia làm hai khu vực mà ông gọi là vùng 1 và vùng 2. Vùng 1 là hai cực ở hai đầu gồm có Tây Âu và Nhật Bản; vùng 2 là khúc chữ nhật dài ở giữa gồm bốn đế chế lớn: Trung Hoa, Nga, Ấn Độ, thế giới Hồi giáo và Đông Âu. Sự khác nhau quan trọng giữa vùng 1 và vùng 2, là các xã hội ở vùng 2 “đã không trải qua giai đoạn phong kiến” và do đó “đã không phát triển được giai cấp tư sản có ảnh hưởng”. Umesao cũng viết: “Một khác biệt có thể là các cá nhân trong một xã hội đã trải qua chế độ phong kiến, nói chung, có cảm nhận tương đối rõ về cái tôi. Trái lại, các cá nhân trong một xã hội chưa trải qua chế độ phong kiến có khuynh hướng tập thể nhiều hơn”.

Và như vậy, khi va chạm với chủ nghĩa tư bản đến từ phương Tây, “vào thời điểm Nhật Bản nhập khẩu các yếu tố văn minh nước ngoài, mà chủ yếu từ Tây Âu, nó đã có đủ nguồn nhân lực để triển khai chúng. Nhật Bản có giới tư sản hùng hậu, được thúc đẩy lớn mạnh trong thời kỳ phong kiến và được giải phóng nhờ cách mạng. Người Nhật vừa phát triển xong một xã hội công dân hiện đại khi công nghiệp nước ngoài được du nhập”. Do đó, tuy cùng gọi là duy tân, tuy Đông Kinh Nghĩa Thục của Việt Nam là noi theo gương Khánh Ứng Nghĩa Thục của Nhật Bản, nhưng duy tân ở ta (và cả ở Trung Quốc) và ở Nhật có sự khác nhau rất căn bản: chúng ta chỉ có tư tưởng, dù rất cố gắng theo cái mới, nhưng hoàn toàn không có cơ sở xã hội cho một công cuộc hiện đại hoá thành công. Ngay từ năm 1934, trong một bài báo sớm một cách khác thường, Phan Khôi cũng đã khẳng “trong lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến” (và ngay cả Trung Quốc, từ nhà Tần về sau cũng không có chế độ phong kiến, chỉ cai trị đất nước theo lối chia thành quận huyện). Không trải qua chế độ phong kiến, thì không thể nảy sinh và phát triển giai cấp tư sản lớn mạnh. Đó chính là cái thiếu cốt yếu khiến cho công cuộc duy tân của ta (và cả Trung Quốc) không thể thành công…

Từ mô hình cơ bản đó, Umesao đi vào phân tích tỉ mỉ và sâu sắc một loạt hiện tượng lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế của một loạt quốc gia và dân tộc, soi sáng các hiện tượng đó dưới ánh sáng mới của mô hình do ông đề nghị, không chỉ nhận chân và giải thích chúng, mà còn cả dự báo xu thế phát triển của chúng. Umesao chỉ ra rằng “trong các xã hội vùng 1, động lực thúc đẩy phát triển lịch sử xuất phát từ trong lòng cộng đồng: cái này được gọi là diễn thế “tự thân” (autogenic). Trái lại trong vùng 2, lịch sử thường bị thay đổi vì những lực lượng bên ngoài cộng đồng: điều này được biết đến như là diễn thế “cưỡng bức (allogenic)”. Có thể cũng do vậy, ở các xã hội vùng 2, “cách mạng thường đưa đến sự trỗi dậy của nền độc tài, chứ không phải trao quyền cho giới tư sản”, (khác với ở vùng 1, cách mạng đưa đến dân chủ). Ông còn nói thêm, sâu sắc và rất thời sự: Ở vùng 2 (hiện nay), “các chính phủ với những nhà lãnh đạo đầy quyền lực đã nhận lấy vai trò tương ứng với vai trò của giới tư sản ở vùng 1, là đẩy mạnh cách mạng và mưu cầu mức sống tốt hơn theo cách hữu hiệu nhất có thể… Nghe có vẻ như nghịch lý, nhưng ta có thể nói các chính quyền cộng sản và xã hội chủ nghĩa đang cố gắng giữ vai trò như của chủ nghĩa tư bản trong vùng 1. Dù thế nào đi chăng nữa, chắc chắn là mức sống ở các nước vùng 2 sẽ tăng lên”…

Đương nhiên mô hình thế giới của Umesao là một lý thuyết nghĩa là một mô hình đề nghị, giữa những mô hình đề nghị có thể khác. Nó là một cách đề nghị giải thích các hiện tượng lịch sử quá khứ và hiện đại. Ta sẽ đọc cuốn sách độc đáo này của ông với quan điểm tham khảo, đối chiếu và phê phán. Một tham khảo bổ ích. Để suy ngẫm cho chính con đường phát triển của chúng ta hôm nay.
 

Theo http://www.sachhay.org/

--- Thông tin thư mục ---

BOOKS
952
UM-T
Umesao, Tadao
    Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học : Văn minh Nhật Bản trong bối cảnh thế giới / Tadao Umesao ; Nguyễn Đức Thành, Bùi Nguyễn Anh Tuấn dịch. - Hà Nội : Thế giới, 2007. - 298 tr. ; 21 cm

Vị trí: Thư viện Đại học Hoa Sen

Tiếng Việt